• Phân tích Cơ bản (FA)

    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 22:21
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.
    Hệ số thu hồi nợ trung bình:
    Việc tìm ra kỳ thu hồi nợ bán hàng trung bình của một công ty sẽ cho bạn biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.
    Các khoản phải thu
    Kỳ thu hồi nợ trung bình = ———————————————— ———
    Doanh số bán chịu hàng năm/360 ngày
    Ví dụ:
    Nếu bảng cân đối kế toán của một công ty cho biết số liệu của các khoản phải thu là $700.000 và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là $5.500.000, thì:
    $700.000
    Kỳ thu hồi nợ trung bình = ——————————- = 45.8 ngày.
    $5.500.000 / 360 ngày
    Cũng như các hệ số khác, kỳ thu hồi nợ trung bình phải được xem xét trong mối liên hệ với các thông tin khác. Nếu chính sách của công ty là bán chịu cho khách hàng trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là công ty gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:22
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Những công ty phát triển và có lợi nhuận sẽ chi trả cổ tức. Tuy nhiên, những công ty không trả cổ tức không hẳn là không có lợi nhuận

    Cổ tức cho thấy triển vọng của công ty
    Sự sẵn sàng và khả năng trả cổ tức ổn định của một công ty, khả năng làm gia tăng cổ tức cung cấp những thông tin tốt đẹp về triển vọng của công ty.
    Những công ty phát triển và có lợi nhuận sẽ chi trả cổ tức. Tuy nhiên, những công ty không trả cổ tức không hẳn là không có lợi nhuận. Nếu công ty nghĩ rằng cơ hội tăng trưởng của công ty tốt hơn các cơ hội đầu tư có sẵn khác của cổ đông, công ty sẽ giữ lại lợi nhuận và tái đầu tư.
    Song, ngay cả những công ty sung mãn, lợi nhuận đạt cao thì họ vẫn có ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:22
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    Phản ánh mối quan hệ giữa thị giá (giá thị trường cổ phiếu hiện hành) cổ phiếu với lợi nhuận sau thuế trong một năm của công ty.
    Chỉ số P/E
    Đây là chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa thị giá (giá thị trường cổ phiếu hiện hành) cổ phiếu với lợi nhuận sau thuế trong một năm của công ty. Lấy ví dụ từ báo cáo tài chính của Ngân hàng A’ Châu (ACB). Lợi nhuận sau thuế năm 1999 của ACB là 51.564 triệu đồng, chia cho tổng số cổ phiếu được: 151,025 đồng. Giá thỏa thuận mua bán cổ phiếu ACB (trên thị trường không chính thức) mới đây là 1,7 triệu đồng, vậy P/E của ACB bằng 1.700.000 : 151,025 = 11,25 lần.
    Chỉ số này được dùng khá phổ biến như một công cụ để nhà đầu tư xem xét mình qua chứng khoán rẻ hay đắt. P/E càng cao nghĩa là chứng khoán mua càng cao và ngược lại. Mặt khác, nhà ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:21
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Các công ty và tập đoàn vẫn thường xem việc công khai báo cáo tài chính như một hình thức thông tin tốt và là một yếu tố quan trọng nhằm củng cố mối quan hệ với các nhà đầu tư và chuyên gia phân tích tài chính. Việc các công ty đưa ra những lợi ích như sẽ đảm bảo bình ổn giá cả, nâng cao giá trị kinh tế và thu hút thêm các nhà đầu tư… được các chuyên gia đánh giá là không chính xác và chỉ thể hiện được những mục tiêu trước mắt, mà chưa cung cấp được những dữ liệu kinh doanh cơ bản mang tính chiến lược lâu dài.

    Những ngộ nhận trong việc phát hành báo cáo tài chính
    Các công ty và tập đoàn bắt đầu phát hành công khai các bản báo cáo tài chính từ cuối những năm 1990, nhưng đến nay, thói quen này đang có xu hương giảm dần. Theo khảo ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:21
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    vnbroker.com - Các nhà quản trị doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với các điều kiện và tình huống kinh doanh không chắc chắn.
    Trong chỉ đạo và ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với các điều kiện và tình huống kinh doanh không chắc chắn. Đó là khả năng mà giá trị phát sinh thực tế của các yếu tố giá bán, sản lượng tiêu thụ, chi phí lãi vay…. sẽ chênh lệch đáng kể với dự tính. Để quyết định của nhà quản trị mang tính hiệu quả cao, nhà quản trị cần phải tính đến các yếu tố mang tính rủi ro này. Xét về khía cạnh kế toán quản trị, đây chính là việc xác lập ảnh hưởng của các yếu tố không chắc chắn trong các mô hình ra quyết định.
    Tùy theo mức độ tiếp cận chi tiết mà việc xác lập ảnh hưởng của yếu tố không chắc chắn trong các mô hình kế toán quản trị có thể được thực hiện theo một trong 2 phương thức sau:
    - Xác định xác suất xảy ra các sự kiện và đưa vào ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:20
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó giúp cho những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.


    1. Mục tiêu và đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
    2. Một số nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:20
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Chọn thời điểm thích hợp để mua và bán chứng khoán
    Chọn thời điểm thích hợp để ra quyết định mua bán chứng khoán là điều quan trọng nhất đối với nhà đầu tư. Bài viết này nhằm giúp cho nhà đầu tư có góc nhìn toàn diện hơn khi đưa ra những quyết định riêng cho mình.

    Khi nào nên mua Chứng khoán
    - Khi bạn mua chứng khoán, điều đầu tiên quan trọng nhất là bạn phải biết khi nào bạn bán chúng. Có rất nhiều nhà đầu tư cười toe toét khi thị trường đang đi xuống vì họ cho đó là sự dìm giá của các nhà đầu tư lớn trên thị trường, đây cũng là lúc mà các nhà đầu tư này cho là thời điểm thích hợp để mua chứng khoán. Thật sự đây có phải là qui luật bậc nhất hay không? ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:19
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com Phá sản được xem như dấn chấm hết đối với một doanh nghiệp. Làm thế nào để phát hiện sớm các dấu hiệu báo trước nguy cơ phá sản để có biện pháp kịp thời. Bài viết này giới thiệu một trong những công cụ phổ biến nhất để phát hiện nguy cơ phá sản. Đó là chỉ số Z. Hãy tự tính chỉ số Z để phòng bệnh cho doanh nghiệp. ( Đối với nhà đầu tư: để chọn công ty không bị nguy cơ phá sản)


    Chỉ số Z (Z score) – công cụ phát hiện nguy cơ phá sản:
    Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản luôn là một trong những mối quan tâm hang đầu của các nhà nghiên cứu về tài chánh doanh nghiệp. Có nhiều công cụ đã được phát triển để làm việc này. Trong đó, chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Chỉ số này được phát minh bởi Giáo Sư Edward I. Altman, trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ. Mặc dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao.
    Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5:
    X1 = Tỷ số Vốn Lưu Động trên Tổng Tài Sản (Working Capitals/Total Assets).
    X2 = Tỷ số Lợi Nhuận Giữ Lại trên Tổng Tài Sản (Retain Earnings/Total Assets)
    X3 = Tỷ Số Lợi Nhuận Trước Lãi Vay và Thuế trên Tổng Tài sản (EBIT/Total Assets)
    X4 = Giá Trị Thị Trường của Vốn Chủ Sỡ Hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng Nợ (Market Value of Total Equity / Book values of total Liabilities)
    X5= Tỷ số Doanh Số trên Tổng Tài Sản (Sales/Total Assets)
    Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I. Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp, như sau:

    Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:

    Z = 1.2×1 + 1.4×2 + 3.3×3 + 0.64×4 + 0.999×5
    * Nếu Z > 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.8 < Z < 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
    Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
    Z’ = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
    * Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z’ <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.

    Đối với các doanh nghiệp khác:

    Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau
    Z’’ = 6.56×1 + 3.26×2 + 6.72×3 + 1.05×4
    * Nếu Z’’ > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.2 < Z’’ < 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z <1.1 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.

    Tăng chỉ số Z để giảm thiểu khả năng phá sản:

    Để tăng chỉ số Z chúng ta cần tăng từng tử số và giảm mẫu số của từng chỉ số X bên trên. Quan sát 5 chỉ số X, chúng ta có thể nhận thấy Tổng Tài Sản là mẫu số của 4 chỉ số X1, X2, X3, X5. Do đó nếu doanh nghiệp có thể giảm được tổng tài sản mà vẫn giữ vững quy mô, hiệu quả hoạt động thì chắc chắn chỉ số Z sẽ tăng lên rõ rệt. Vì thế doanh nghiệp cần phải rà soát thật kỹ để tìm ra những tài sản không hoạt động, tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp tạo ra doanh số. Bán chúng đi, doanh nghiệp sẽ giảm được các mẫu số của 4 chỉ số X nói trên, và đồng thời tăng được tử số của một số chỉ số. Đối với những tài sản không có nợ hay nợ ít, khi bán đi doanh nghiệp sẽ nhận được thêm tiền mặt, khi đó Vốn lưu động – tử số của X1 sẽ tăng lên. Bên cạnh đó chi phí khấu hao cũng sẽ giảm xuống, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận tăng, tức là tử số của X2, và X3 sẽ tăng theo.
    Trong trường hợp tài sản đang bị nợ, khi bán chúng đi, vốn lưu động có thể sẽ không tăng lên liền lúc đó, nhưng tổng nợ – mẫu số X4 – sẽ giảm xuống, chi phí lãi suất, và khấu hao cũng giảm theo. Tỷ lệ lợi nhuận vì thế sẽ tăng lên, tử số của X2, X3 sẽ tăng lên. Và nếu quản lý tốt, chúng ta sẽ có thêm tiền mặt. Tức là vốn lưu động sẽ tăng lên theo. Tử số X1 cũng sẽ tăng lên theo sau đó. Rõ ràng việc bán đi những tài sản không hoạt động sẽ tạo ra ảnh hưởng rất tốt đến sự tăng trưởng của các chỉ số X. Dĩ nhiên, không phải tài sản nào bán đi cũng có thể đưa chỉ số Z lên. Có những tài sản khi bán đi, sẽ làm ảnh hưởng lớn đến doanh số – tử số của chỉ số X5, và ảnh hưởng gián tiếp đến đến các tử số của X2, X3. Khi đó lợi bất cập hại. Do đó doanh nghiệp rất phải cẩn thận trong việc phân loại tài sản. Không phải cứ bị nguy hiểm là lo bán tài sản. Để tăng tử số X2, X3 công ty cần phải tạo nhiều lợi nhuận hơn qua hoạt động kinh doanh chính của mình, hay đôi khi là từ những “phi vụ” kinh doanh không thường xuyên. Làm sao bán được nhiều hàng/dịch vụ , với giá chấp nhận được, quay vòng vốn nhanh…đó là những việc làm có tính sống còn mà công ty phải thực hiện.
    Để tăng X3 – Lợi Nhuận giữ lại, doanh nghiệp cần phải để ý đến mức chia cổ tức cho nhà đầu tư. Cổ tức chia ít đi thì Lợi Nhuận giữ lại sẽ tăng lên. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể giảm cổ tức đến mức quá thấp vì khi đó nhà đầu tư sẽ phản ứng, dẫn đến giá cổ phiếu thấp, tất sẽ làm làm giảm tử số của X4 và vì thế tăng chỉ số Z.
    Để làm tăng doanh số – tử số của X5, doanh nghiệp cần phải có tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh của mình. Một điều cần phải quan tâm là doanh nghiệp phải cân bằng giữa chi phí của việc tăng doanh số và biên độ tăng của doanh số. Nếu chi phí tăng quá cao, thì tử số X1, X2, X3 sẽ giảm, khi đó việc tăng tử số X5 sẽ là vô nghĩa vì không đủ sức bù đắp cho sự giảm của các chỉ số X1, X2, X3.
    Cuối cùng, để tăng X4, chúng ta phải tăng giá trị thị trường của vốn chủ sỡ hữu, bằng cách tăng thị giá cổ ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:19
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Nhìn vào bảng cân đối tài sản doanh nghiệp thì bên tay trái là tài sản có, bên tay phải là nguồn gốc tạo ra tài sản có: gồm nợ (các loại) và vốn chủ sỡ hữu cùng với lợi nhuận được giữ lại của chủ sỡ hữu. Tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sỡ hữu gọi là cấu trúc vốn.
    Phần đông doanh nghiệp chúng ta, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhìn nhận về tỷ lệ này khá đơn giản. Thường thì chúng ta tự nhẩm tính khi nào thì nên mượn nợ, khi nào thì kêu gọi thêm vốn chủ sỡ hữu. Dĩ nhiên những tính tóan đó phần nào cũng có “lý” của người quyết định. Tuy vậy, nếu chúng ta biết rằng, việc xác định ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 03:18
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    (VNBroker)Mặc dù có một số tranh luận khác nhau về lý thuyết DOW như: có độ trễ so với diễn biến của thị trường, khó phản ánh chính xác với những biến đổi trung gian đặc biệt là với những giao dịch ngắn hạn. Tuy nhiên ,không thể phủ nhận rằng đây là lý thuyết lâu đời nhất và cũng là phương pháp được biết đến nhiều nhất về việc xác định xu hướng chính trên thị trường chứng khoán qua đó đem lại cái nhìn tổng quan về toàn bộ thị trường.


    Bản thân Charler H. Dow, cha đẻ của lý thuyết Dow lúc khởi đầu không coi lý thuyết của mình là công cụ để dự báo thị trường cổ phiếu hoặc là công cụ hướng dẫn cho các nhà đầu tư, mà chỉ xem xét chúng như là một hàn thử biểu về xu thế chung của thị trường. William P.Hamilton, người kế nghiệp, đã biên soạn lại thành lý thuyết Dow hiện đại ngày nay. Thuật ngữ xu thế chung của thị trường được hiểu là chỉ số giá trung bình của một số cổ phiếu đại diện.



    Lý thuyết Dow đưa ra các tiền đề cơ bản sau:
    1.1 Chỉ số ...
    Trang 1/3 123 CuốiCuối
Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 08:14
Powered by vBulletin® Version 4.1.11
Copyright © 2017 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.
Bản quyền © 2010-2016 Vnbroker
® Ghi rõ nguồn "Vnbroker.com" khi phát hành lại thông tin tại website này
Partners: Buôn Ma Thuột | Nhẫn lông đuôi voi