• Tin tức Chứng khoán RSS Feed

    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:19
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com Phá sản được xem như dấn chấm hết đối với một doanh nghiệp. Làm thế nào để phát hiện sớm các dấu hiệu báo trước nguy cơ phá sản để có biện pháp kịp thời. Bài viết này giới thiệu một trong những công cụ phổ biến nhất để phát hiện nguy cơ phá sản. Đó là chỉ số Z. Hãy tự tính chỉ số Z để phòng bệnh cho doanh nghiệp. ( Đối với nhà đầu tư: để chọn công ty không bị nguy cơ phá sản)


    Chỉ số Z (Z score) – công cụ phát hiện nguy cơ phá sản:
    Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản luôn là một trong những mối quan tâm hang đầu của các nhà nghiên cứu về tài chánh doanh nghiệp. Có nhiều công cụ đã được phát triển để làm việc này. Trong đó, chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Chỉ số này được phát minh bởi Giáo Sư Edward I. Altman, trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ. Mặc dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao.
    Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5:
    X1 = Tỷ số Vốn Lưu Động trên Tổng Tài Sản (Working Capitals/Total Assets).
    X2 = Tỷ số Lợi Nhuận Giữ Lại trên Tổng Tài Sản (Retain Earnings/Total Assets)
    X3 = Tỷ Số Lợi Nhuận Trước Lãi Vay và Thuế trên Tổng Tài sản (EBIT/Total Assets)
    X4 = Giá Trị Thị Trường của Vốn Chủ Sỡ Hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng Nợ (Market Value of Total Equity / Book values of total Liabilities)
    X5= Tỷ số Doanh Số trên Tổng Tài Sản (Sales/Total Assets)
    Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I. Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp, như sau:

    Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:

    Z = 1.2×1 + 1.4×2 + 3.3×3 + 0.64×4 + 0.999×5
    * Nếu Z > 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.8 < Z < 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
    Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
    Z’ = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
    * Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z’ <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.

    Đối với các doanh nghiệp khác:

    Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau
    Z’’ = 6.56×1 + 3.26×2 + 6.72×3 + 1.05×4
    * Nếu Z’’ > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
    * Nếu 1.2 < Z’’ < 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
    * Nếu Z <1.1 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.

    Tăng chỉ số Z để giảm thiểu khả năng phá sản:

    Để tăng chỉ số Z chúng ta cần tăng từng tử số và giảm mẫu số của từng chỉ số X bên trên. Quan sát 5 chỉ số X, chúng ta có thể nhận thấy Tổng Tài Sản là mẫu số của 4 chỉ số X1, X2, X3, X5. Do đó nếu doanh nghiệp có thể giảm được tổng tài sản mà vẫn giữ vững quy mô, hiệu quả hoạt động thì chắc chắn chỉ số Z sẽ tăng lên rõ rệt. Vì thế doanh nghiệp cần phải rà soát thật kỹ để tìm ra những tài sản không hoạt động, tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp tạo ra doanh số. Bán chúng đi, doanh nghiệp sẽ giảm được các mẫu số của 4 chỉ số X nói trên, và đồng thời tăng được tử số của một số chỉ số. Đối với những tài sản không có nợ hay nợ ít, khi bán đi doanh nghiệp sẽ nhận được thêm tiền mặt, khi đó Vốn lưu động – tử số của X1 sẽ tăng lên. Bên cạnh đó chi phí khấu hao cũng sẽ giảm xuống, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận tăng, tức là tử số của X2, và X3 sẽ tăng theo.
    Trong trường hợp tài sản đang bị nợ, khi bán chúng đi, vốn lưu động có thể sẽ không tăng lên liền lúc đó, nhưng tổng nợ – mẫu số X4 – sẽ giảm xuống, chi phí lãi suất, và khấu hao cũng giảm theo. Tỷ lệ lợi nhuận vì thế sẽ tăng lên, tử số của X2, X3 sẽ tăng lên. Và nếu quản lý tốt, chúng ta sẽ có thêm tiền mặt. Tức là vốn lưu động sẽ tăng lên theo. Tử số X1 cũng sẽ tăng lên theo sau đó. Rõ ràng việc bán đi những tài sản không hoạt động sẽ tạo ra ảnh hưởng rất tốt đến sự tăng trưởng của các chỉ số X. Dĩ nhiên, không phải tài sản nào bán đi cũng có thể đưa chỉ số Z lên. Có những tài sản khi bán đi, sẽ làm ảnh hưởng lớn đến doanh số – tử số của chỉ số X5, và ảnh hưởng gián tiếp đến đến các tử số của X2, X3. Khi đó lợi bất cập hại. Do đó doanh nghiệp rất phải cẩn thận trong việc phân loại tài sản. Không phải cứ bị nguy hiểm là lo bán tài sản. Để tăng tử số X2, X3 công ty cần phải tạo nhiều lợi nhuận hơn qua hoạt động kinh doanh chính của mình, hay đôi khi là từ những “phi vụ” kinh doanh không thường xuyên. Làm sao bán được nhiều hàng/dịch vụ , với giá chấp nhận được, quay vòng vốn nhanh…đó là những việc làm có tính sống còn mà công ty phải thực hiện.
    Để tăng X3 – Lợi Nhuận giữ lại, doanh nghiệp cần phải để ý đến mức chia cổ tức cho nhà đầu tư. Cổ tức chia ít đi thì Lợi Nhuận giữ lại sẽ tăng lên. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể giảm cổ tức đến mức quá thấp vì khi đó nhà đầu tư sẽ phản ứng, dẫn đến giá cổ phiếu thấp, tất sẽ làm làm giảm tử số của X4 và vì thế tăng chỉ số Z.
    Để làm tăng doanh số – tử số của X5, doanh nghiệp cần phải có tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh của mình. Một điều cần phải quan tâm là doanh nghiệp phải cân bằng giữa chi phí của việc tăng doanh số và biên độ tăng của doanh số. Nếu chi phí tăng quá cao, thì tử số X1, X2, X3 sẽ giảm, khi đó việc tăng tử số X5 sẽ là vô nghĩa vì không đủ sức bù đắp cho sự giảm của các chỉ số X1, X2, X3.
    Cuối cùng, để tăng X4, chúng ta phải tăng giá trị thị trường của vốn chủ sỡ hữu, bằng cách tăng thị giá cổ ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:19
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.vnbroker.com - Nhìn vào bảng cân đối tài sản doanh nghiệp thì bên tay trái là tài sản có, bên tay phải là nguồn gốc tạo ra tài sản có: gồm nợ (các loại) và vốn chủ sỡ hữu cùng với lợi nhuận được giữ lại của chủ sỡ hữu. Tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sỡ hữu gọi là cấu trúc vốn.
    Phần đông doanh nghiệp chúng ta, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhìn nhận về tỷ lệ này khá đơn giản. Thường thì chúng ta tự nhẩm tính khi nào thì nên mượn nợ, khi nào thì kêu gọi thêm vốn chủ sỡ hữu. Dĩ nhiên những tính tóan đó phần nào cũng có “lý” của người quyết định. Tuy vậy, nếu chúng ta biết rằng, việc xác định ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:18
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    (VNBroker)Mặc dù có một số tranh luận khác nhau về lý thuyết DOW như: có độ trễ so với diễn biến của thị trường, khó phản ánh chính xác với những biến đổi trung gian đặc biệt là với những giao dịch ngắn hạn. Tuy nhiên ,không thể phủ nhận rằng đây là lý thuyết lâu đời nhất và cũng là phương pháp được biết đến nhiều nhất về việc xác định xu hướng chính trên thị trường chứng khoán qua đó đem lại cái nhìn tổng quan về toàn bộ thị trường.


    Bản thân Charler H. Dow, cha đẻ của lý thuyết Dow lúc khởi đầu không coi lý thuyết của mình là công cụ để dự báo thị trường cổ phiếu hoặc là công cụ hướng dẫn cho các nhà đầu tư, mà chỉ xem xét chúng như là một hàn thử biểu về xu thế chung của thị trường. William P.Hamilton, người kế nghiệp, đã biên soạn lại thành lý thuyết Dow hiện đại ngày nay. Thuật ngữ xu thế chung của thị trường được hiểu là chỉ số giá trung bình của một số cổ phiếu đại diện.



    Lý thuyết Dow đưa ra các tiền đề cơ bản sau:
    1.1 Chỉ số ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:18
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.VNBroker
    a. Phương thức khớp lệnh định kỳ
    hiện đang được áp dụng tại TTGDCK Tp.HCM. Khớp lệnh định kỳ (call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định.


    b. Phương thức khớp lệnh liên tục: Trong phương thức khớp lệnh liên tục (continuous Auction), giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống.
    Giới thiệu về phương thức giao dịch áp dụng trên TTGDCK Hà Nội: Hiện nay TTGDCK Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:18
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    VNbroker-Trước khi giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư cần tìm hiểu các quy định và nguyên tắc giao dịch chứng khoán tại HOSE, HNX và Upcom.

    Quy định về giao dịch tại HOSE
    Thời gian giao dịch:
    Thời gian giao dịch: từ 8h30 đến 11h00 các ngày từ Thứ 2 đến Thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, Tết)
    Thời gian giao dịch cụ thể như sau:
    Đợt giao dịch
    Thời gian giao dịch
    Phương thức giao dịch
    Đợt 1
    8h30 đến 9h00
    Khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa
    Đợt 2
    9h00 đến 10h15
    Khớp lệnh liên tục
    Đợt 3
    10h15 đến 10h30
    Khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa
    Thoả thuận
    10h30 đến 11h00
    Giao dịch thoả thuận

    11h00
    Đóng cửa thị trường
    Giao dịch trái phiếu theo phương thức thỏa thuận từ 8h30 đến 11h00
    Đơn vị giao dịch:
    Mệnh giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là 10.000 đồng. Mệnh giá của trái phiếu là 100.000 đồng.
    Đơn vị giao dịch: Tối thiểu 10 cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư và bội số của 10
    Biên độ giao động giá: +/- 5% (Áp dụng từ ngày 18/08/2008)
    Không quy định đơn vị giao dịch đối với giao dịch thỏa thuận.
    Đơn vị yết giá:
    Mức giá
    Cổ phiếu
    Trái phiếu
    Giá <= 49.900 đồng
    ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:17
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    VNbroker-Mục tiêu của chúng ta không phải là luôn đúng trong mọi quyết định của mình.
    Mục tiêu của chúng ta không phải là luôn đúng trong mọi quyết định của mình. Thực sự không ai có thể làm được điều đó. Bạn sẽ kiếm được tiền khi bạn hành động đúng và thua lỗ nếu bạn hành động sai. Điều phân biệt những nhà đầu tư thành công giữa các nhà đầu tư khác là số tiền họ kiếm được luôn nhiều hơn số tiền mất đi, điều này đòi hỏi bạn phải luôn thắng lớn khi thành công, và rút ra nhanh, thua lỗ ít khi thất bại. Đây thực ra không phải là một điều thần kỳ gì nếu chúng ta chịu nghiên cứu những mô hình cũng như những con ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:17
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    VNbroker-Giới thiệu và mô tả một cách khái quát những tài liệu cơ bản được sử dụng đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
    Để việc đánh giá được thuận tiện, bảng Cân Đối Kế Toán (bảng tổng kết tài sản) và báo cáo thu nhập của ngân hàng sẽ được trình bày một cách cụ thể để làm ví dụ, ngoài ra còn có những tài liệu bổ sung về tình hình tài chính và những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng

    I. TÌM HIỂU BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
    1. Khái niệm
    Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính của ngân hàng khái quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng vào ngày cuối năm.
    Để có thể đánh giá hoạt động của ngân hàng một cách chính xác, bảng Cân Đối Kế Toán dùng làm cơ sở để đánh giá phải được phản ảnh bằng số dư bình quân ngày thay vì số liệu cuối năm. Điều này rất dễ hiểu bởi vì sự sai lệch có thể phát hiện được nếu những số liệu hàng ngày được quan tâm đến. Số liệu cuối năm chỉ sử dụng trong một số trường hợp nhất định nào đó.

    2. Nội dung và kết cấu bảng cân đối kế toán
    Bảng Cân Đối Kế Toán được thể hiện một cách tổng quát bao gồm 2 phần:
    + Phần Tài sản (Assets) của ngân hàng thể hiện sự sử dụng vốn (ngân quỹ) của ngân hàng, nó thể hiện hoạt động của ngân hàng.
    + Phần Nợ phải trả & vốn chủ sở hữu ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:17
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    VNbroker-Hoàn toàn lặng im khi nghe bồi thẩm đoàn đọc cáo trạng, Bernard Ebbers, cựu giám đốc điều hành tập đoàn viễn thông World Com, Mỹ đã bị buộc tội gian lận và cung cấp các số liệu không chính xác tại các báo cáo tài chính liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD trong vụ phá sản của một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ.
    Với các tội danh trên, Ebbers có thể phải chịu hình phạt lên đến 85 năm tù giam. Lúc đó, phản ứng duy nhất của mọi người trong phiên toà là từ phía vợ Ebbers, bà ngồi khóc lặng lẽ với sự an ủi của cô con gái. Ebbers và gia đình đã rời khỏi toà mà không có bình luận gì. Với họ những sai phạm ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:17
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    www.VnBroker.com - Dòng lưu chuyển tiền tệ đặc biệt quan trọng đối với một doanh nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động của mình, thay thế các tài sản cần thiết, tận dụng các cơ hội của thị trường và chi trả cổ tức cho các cổ đông. Một số chuyên gia còn cho rằng “dòng tiền là vua” (“cash flow is king”).


    Bảng lưu chuyển tiền tệ cho biết khả năng tạo tiền, tình hình quản lí các tài sản và trách nhiệm pháp lí ngoài vốn hiện thời, chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản suất và các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Nó cho phép cả các nhà quản lí cũng như các nhà nghiên cứu trả lời được những vấn đề quan trọng liên quan đến tiền như:
    • Liệu doanh nghiệp có đủ tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn cho nhà cung cấp và những chủ nợ khác mà không phải đi vay không?
    • Doanh nghiệp có thể quản lí được các tài khoản phải thu, bảng kiểm kê, …
    • Doanh nghiệp có những khoản đầu tư hiệu quả cao không?
    • Doanh nghiệp có thể tự tạo ra được dòng tiền tệ để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết mà không phụ thuộc vào vốn từ bên ngoài không?
    • Doanh nghiệp có đang thay đổi cơ cấu nợ không?
    Bảng lưu chuyển tiền tệ (SCF) cung cấp thông tin liên quan ba hoạt động chính tạo ra và sử dụng tiền là: hoạt động sản xuất, kinh doanh, ...
    gửi bởi Đăng tin ngày 14-10-2010 02:16
    1. Chuyên mục:
    2. Phân tích Cơ bản (FA)

    Các danh mục và các mô hình nhân tố
    Chúng ta hãy xem điều gì sẽ xảy ra với một danh mục cổ phiếu khi mỗi cổ phiếu thành phần tuân theo mô hình một nhân tố. Để bàn luận, chúng ta sẽ chọn một tháng kế tiếp và quan sát tỷ suất sinh lợi. Lẽ ra chúng ta cũng có thể sử dụng một ngày hay một năm hay một khoảng thời gian bất kỳ. Tuy nhiên nếu là khoảng thời gian năm giữa những quyết định chúng ta nên chọn khoảng thời gian ngắn, một tháng là khung thời gian lý tưởng cần chọn.
    Chúng ta sẽ tạo những danh mục từ n cổ phiếu, và sử dụng mô hình một nhân tố để đo lường rủi ro hệ thống. Do đó cổ phiếu thứ i trong danh sách sẽ có tỷ suất sinh lợi là ...

    Trang 18/22 ĐầuĐầu ... 81617181920 ... CuốiCuối
Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 21:52
Powered by vBulletin® Version 4.1.11
Copyright © 2020 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.
Bản quyền © 2010-2016 Vnbroker
® Ghi rõ nguồn "Vnbroker.com" khi phát hành lại thông tin tại website này
Partners: Buôn Ma Thuột | Nhẫn lông đuôi voi